Trang này dùng thế nào
Bài hiện có thực đơn 4 quán, một quán chiếm gần nửa số món. Nhóm cần lấy thêm thực đơn cho đủ ít nhất 20 quán, rồi hai người phân loại riêng từng món và đem so với nhau.
- Bấm thẻ Phần của GV A hoặc Phần của GV B ở trên. Mỗi người chỉ điền trong phần của mình.
- Ô nền vàng là ô điền. Gõ xong là tự lưu, không cần bấm nút; góc trên bên phải hiện Đã lưu.
- Ảnh thực đơn và ảnh chụp màn hình vẫn để trong thư mục Google Drive của quán. Trang này thay cho các file Excel.
- Mỗi việc có ô Đã xong và ô Chỗ khó ở cuối. Có thắc mắc thì nhắn nhóm chung, ghi kèm mã quán và mã món.
Bảy cách dịch tên món
Mỗi món có tên Nhật và tên Việt in trên thực đơn. Người phân loại xem quán đã chuyển tên Nhật sang tên Việt theo cách nào. Không chấm đúng sai, chỉ ghi cách quán đã chọn.
Bảng mã bản 2, trưởng nhóm ký ngày 12/10/2026. Ví dụ trong bảng do nhóm tự đặt, không lấy từ quán nào.
Trước khi chọn, bỏ ra ngoài những chữ sau, không tính vào mã nào: "Nhật", "Nhật Bản", "kiểu Nhật", "món", và phần nói món ăn kèm.
Chọn Cách chính: đi lần lượt 3 bước, dừng ở bước đầu tiên khớp.
- Tên Việt có tên Nhật viết La-tinh, và có thêm chữ Việt nói lại chính món đó? → P6. Ví dụ たこ焼き → Bánh bạch tuộc Takoyaki: P6.
- Tên Việt chủ yếu kể nguyên liệu, cách nấu mà tên Nhật không nói? Cách thử: chỉ đếm tiếng Việt, không đếm tên Nhật viết La-tinh. Trước khi đếm, bỏ phần "bỏ ra ngoài" và phần thêm xuất xứ, hạng, mùa (phần này ghi P6 ở Cách phụ). Đếm A = số tiếng có nghĩa ứng với một phần của tên Nhật, B = số tiếng không ứng. B bằng hoặc lớn hơn A → P5. Tên Việt không có tiếng Việt nào (chỉ có tên Nhật viết La-tinh) → bỏ qua bước này. Ví dụ 肉じゃが (thịt, khoai tây) → Thịt bò hầm khoai tây cà rốt: ứng được 3 tiếng (thịt, khoai tây), không ứng 4 tiếng (bò, hầm, cà rốt) → P5.
- Còn lại: tìm từ cho biết đây là món gì (thường ở cuối tên Nhật: 汁 canh, 丼 cơm bát, 重 cơm hộp, 揚げ và フライ món chiên, 漬け món chan / ngâm, そば mì, おにぎり cơm nắm…). Phần chỉ nguyên liệu, vị (thịt, cá, mơ muối…) là phần còn lại, xét ở Cách phụ. Cách chính = quán làm gì với từ đó: giữ, viết La-tinh (P1), giữ nhưng viết kiểu Việt (P2), dịch sát (P3), mượn tên quen (P4). Ví dụ 鮭茶漬け → Chazuke cá hồi: từ cho biết món là 茶漬け, giữ thành "Chazuke" → P1.
Cách phụ = cách quán làm với phần còn lại của tên, nếu khác Cách chính. Ví dụ trên: 鮭 → cá hồi là dịch sát → Cách phụ P3. Tên chỉ có một phần, hoặc mọi phần cùng một cách → để trống Cách phụ. Cách chính là P5 hoặc P6 mà tên Việt có giữ tên Nhật viết La-tinh → Cách phụ ghi P1 cho phần tên Nhật đó (P2 nếu phần đó thêm dấu Việt hoặc viết theo cách đọc Việt). Ví dụ たこ焼き → Bánh bạch tuộc Takoyaki: Cách chính P6, Cách phụ P1. Cách chính P5 mà tên Việt không có chữ La-tinh nào → để trống Cách phụ (trừ khi có ý bị mất: P7). Ô Cách phụ chỉ ghi một mã. Có nhiều hơn một cách phụ → ô Cách phụ ghi mã đứng trước theo thứ tự P7, P6, rồi P1 đến P5; các mã còn lại ghi vào Ghi chú. Chữ quán thêm vào mà không mã nào hợp → ghi vào Ghi chú.
Bốn chỗ hay phân vân
- P1 hay P2. Lối viết La-tinh nào là thông dụng, chỗ nào là viết sai: nhóm chỉ biết sau khi khảo sát xong toàn bộ thực đơn, nên người phân loại không phán chuyện này. Chọn P2 chỉ khi tên thêm dấu tiếng Việt (Sú-shi) hoặc đổi chữ theo cách đọc Việt (Ta-cô-ya-ki, Xu-si). Mọi cách viết La-tinh khác ghi P1: có hay không gạch ngang trên nguyên âm dài (Rāmen / Ramen), viết hoa hay thường, có dấu cách hay gạch nối (Yakisoba / Yaki soba / Yaki-soba), kể cả chữ trông như viết sai (Takoyaky, Yakisaba). Chữ trông lạ → vẫn P1, ghi "viết khác?" ở Ghi chú. Sau khảo sát, trưởng nhóm chốt lối thông dụng và chuyển những tên viết khác sang P2 cho cả hai người cùng một lúc.
- P6 hay P2. Tên vừa có chữ Việt nói lại món, vừa có tên Nhật viết theo cách đọc Việt (Bánh bạch tuộc Ta-cô-ya-ki) → Cách chính P6, Cách phụ P2.
- P3 hay P4: dịch ngược. Dịch tên Việt ngược sang tiếng Nhật: ra đúng tên gốc, hoặc một tên khác cùng nghĩa → P3; ra một thứ khác, rộng hơn hoặc hẹp hơn → P4. Từ chỉ loại món của Nhật mà quán dịch bằng một từ Việt rộng hơn → P4, ví dụ 丼 (cơm bát có đồ ăn phủ trên) → "Cơm". Vẫn phân vân → ghi P3 và "?" ở Ghi chú. Ví dụ Canh thịt heo → 豚汁: ra đúng → P3. Bánh dày không ra 餅 (bánh dày là món Việt riêng) → P4.
- Món ăn kèm. Phần nói món ăn kèm, tức phần đứng sau chữ "kèm", "ăn kèm", "set gồm…" và không phải món chính của tên Nhật, không tính khi chọn mã; ghi "kèm" ở Ghi chú. Cách nấu, nguyên liệu đứng trước chữ "kèm" vẫn tính. Ví dụ 豚汁 → Canh thịt heo, kèm cơm trắng: xét "Canh thịt heo" → P3, Ghi chú "kèm".